|
''Quản lý rầy nâu" đúng hơn "Phòng trừ rầy nâu'' Có 4 căn cứ để lý giải mệnh đề trên: Một là: Rầy nâu (RN) luôn xuất hiện trong ruộng lúa từ bao đời nay, khi có trồng lúa là có RN. Từ xửa xưa, ông cha ta đã phải sống chung với con RN. Khi sống chung với nó thì phải biết quản lý nó để làm sao cho nó không "phản lại ta" (gây cháy rầy). Hai là: RN là loài dịch hại thứ cấp, nghĩa là bản thân nó tồn tại trên cây lúa mà không gây thiệt hại lớn (cháy rầy) bởi vì có rất nhiều loài ký sinh, thiên địch có ích trong ruộng lúa khống chế con rầy nâu một cách tự nhiên, chỉ cho con rầy sinh sống phát triển ở một mật số thấp không gây ra hiện tượng cháy rầy cho cây lúa. Ba là: RN bộc phát ở mật số cao là do chính con người tạo ra, cụ thể là: gieo sạ quá dày, bón dư thừa phân đạm và phun quá nhiều thuốc trừ sâu trong ruộng lúa. Như vậy, quản lý RN là phải biết rõ lý do tại sao con rầy bộc phát gây hại để điều chỉnh, áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp, chứ không phải chỉ dựa vào việc phun thuốc trừ sâu là biện pháp duy nhất mà bấy lâu nay nông dân ta vẫn áp dụng. Bốn là: Khái niệm “Phòng trừ rầy nâu'' là một từ ghép, bao gồm "phòng" và ''trừ''. Phòng là áp dụng các biện pháp đề phòng RN bộc phát như là gieo sạ thưa, bón phân cân đối, tránh bón thừa phân đạm, hạn chế phun thuốc trừ sâu khi chưa cần thiết, v.v. Trừ là phun thuốc trừ sâu để diệt trừ RN khi mật số RN tăng cao, có khả năng gây giảm năng suất. Vì những lý do trên mà khái niệm về quản lý RN sẽ lớn hơn, đầy đủ hơn và chính xác hơn trong việc xây dựng một nghề trồng lúa thâm canh bền vững. Nội dung của "Quản lý rầy nâu" 1) Cần quán triệt nội dung chính trong quản lý rầy nâu hại lúa phải dựa trên cơ sở "phòng là chính". Để phòng ngừa rầy nâu có hiệu quả, phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới đã được khẳng định từ lý thuyết đến thực tiễn như ''ba giảm, ba tăng'' (giảm mật độ sạ dưới 120 kg giống/ha; bón cân đối đạm, lân và kali; tránh bón dư thừa phân đạm; hạn chế phun thuốc trừ sâu khi cây lúa còn non dưới 40 ngày tuổi để bảo vệ thiên địch có ích trong ruộng; điều tiết nước tưới hợp lý, v.v). 2) Cần nắm rõ quy luật sinh trưởng và phát triển của RN: Ngay từ khi gieo sạ lúa, đã có rất nhiều loài thiên địch (nhện sói, bọ xít nước...) di trú đến ruộng lúa, sau đó rầy nâu mới di trú đến, thường lúa 5-7 ngày sau sạ (NSS), đó là lứa rầy đầu tiên. Vòng đời của con rầy nâu khoảng 25-28 ngày, như vậy lứa rầy thứ hai nở rộ vào lúc lúa đẻ nhánh rộ (30-35 NSS). Trong hai lứa rầy này, do cây lúa cung cấp đầy đủ thức ăn nên RN trong ruộng lúa chủ yếu là ở dạng cánh ngắn (hoặc không có cánh); trong ruộng lúa ta có thể thấy có nhiều kích cỡ rầy khác nhau, có màu khác nhau từ màu trắng sữa (rầy cám tuổi 1, 2) đến hơi nâu (tuổi 3) và nâu (tuổi 4, 5), rầy cái cánh ngắn mang trứng, v.v. Kế tiếp khi lúa đã trỗ (60-70 NSS) lứa rầy thứ 3 sẽ nở rộ, lúc này cây lúa đã cạn dần nguồn cung cấp thức ăn cho con rầy nên RN sẽ phải di chuyển để tìm nguồn thức ăn mới. Muốn di chuyển được chúng chỉ có thể bay và phát tán nhờ gió. Để chuẩn bị cho việc di chuyển đến ruộng lúa nơi khác chúng chuyển sang dạng hình cánh gọi là rầy di trú. Căn cứ vào giai đoạn cây lúa trên đồng ruộng, mật số rầy nâu, tuổi rầy, thời tiết, v.v, mà các nhà chuyên môn dự báo các đợt rầy trưởng thành có cánh di trú với mật số cao theo hướng gió, tốc độ gió. Các địa phương dự báo cụ thể khoảng thời gian rầy di trú đến tại địa phương mình để bà con gieo sạ lúa sao cho né tránh được các đợt rầy di trú mật số cao này (gọi là gieo sạ né rầy). Việc né tránh rầy di trú này nhằm mục đích chính là giảm mật số của rầy lứa 1 ngay khi vừa gieo sạ lúa, đồng thời cũng giảm được nguy cơ rầy di trú chích hút và truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa còn non dưới 20 ngày tuổi. 3) Chỉ phun thuốc trừ sâu để trừ rầy khi quan sát thấy có hơn 3 con rầy cám tuổi 2-4 (màu hơi nâu) trên 1 tép lúa, theo dõi tích cực mật số rầy nâu trong ruộng lúa ở giai đoạn 40-45 NSS (lứa rầy thứ 2). Quản lý mật số rầy lứa 2 lúc 40-45 NSS sao cho ở dưới mức 3 con/tép lúa thì không cần phải phun thuốc trừ sâu. Như vậy, trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, bà con nông dân cần thường xuyên quan sát đồng ruộng, đếm mật số rầy nâu, rầy cám trên 1 tép lúa để quyết định phun thuốc hay không. Không nên làm theo thói quen hễ ra ruộng thấy có rầy là phun thuốc hoặc thấy ruộng kế bên phun là mình phải vác bình ra phun theo. Nếu làm theo đúng như vậy thì bà con nông dân mới thực sự trở thành người quản lý ruộng lúa tốt. Việc quản lý RN hại lúa ở nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng, đòi hỏi sự nỗ lực, phối hợp từ nhiều phía, nhiều thành phần mà trong đó bà con nông dân trồng lúa đóng vai trò quyết định. TS. Nguyễn Hữu Huân (Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 08/10/2009 10:42) |
- Tự sản xuất chế phẩm Ometar
- Kỹ thuật trồng nấm sò đùi gà
- Giá cà phê chè sẽ tăng vào cuối năm nay
- Để nhãn xuồng cơm vàng cho trái nhiều đợt
- Trồng rau mầm tại nhà - một cách giải quyết nhu cầu rau xanh tại chỗ
- Giống cà chua Kim Cương Đỏ chống chịu bệnh sương mai
- Cho chanh ra trái nghịch mùa
- Chọn thuốc trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
- Biện pháp cấp bách khống chế dịch bệnh gây hại trên lúa
- Rầy nâu gây hại trên 18.000 ha lúa hè thu
- HƯỚNG DẪN PHÒNG TRỪ RẦY NÂU TRUYỀN BỆNH VÀNG LÙN VÀ LÙN XOẮN LÁ
- Khuyến nông




Hỗ trợ online
Thống kê website
Ở vựa lúa ĐBSCL, rầy nâu luôn được xếp là đối tượng dịch hại số 1 trên lúa. Có nhiều lúc người ta thấy rằng bản chất của các TBKT mới là hệ quả của cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên thông qua con rầy nâu. “Chung sống với rầy nâu" phải là một nguyên tắc trong việc xây dựng một ngành SX lúa gạo thâm canh, bền vững.